Hiện thực và khả năng xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam theo tinh thần bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

    05/06/2021 04:28 PM


    HIỆN THỰC VÀ KHẢ NĂNG

    XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM THEO TINH THẦN BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG

     

    Mới đây, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Phú Trọng đã có Bài viết đặc biệt quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam[1]. Bài viết đã nêu ra tư tưởng cơ bản về tính tất yếu khách quan của sự ra đời chế độ xã hội chủ nghĩa, bản chất của chủ nghĩa xã hội; nêu lên mục tiêu, nội dung, phương hướng, cách thức và động lực xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam – một mô hình xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội hiện thực của thế giới. Bài viết là sự tổng kết lý luận và thực tiễn phong phú và sâu sắc về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đồng thời, thể hiện một tầm nhìn chiến lược của cá nhân đồng chí Tổng Bí thư về định hướng cho sự phát triển đất nước trong thế kỷ XXI và cho sự nghiệp cách mạng lâu dài của dân tộc.

    Trước hết, Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu ra câu hỏi: “Vì sao Việt Nam lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa? Làm thế nào và bằng cách nào để từng bước xây dựng được chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam? Thực tiễn công cuộc đổi mới, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong thời gian qua có ý nghĩa gì và đặt ra vấn đề gì?”. Với sự khái quát sâu sắc, logic, khoa học về mặt lý luận và những kinh nghiệm, thành công từ thực tiễn sinh động, Bài viết đã khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, theo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – học thuyết khoa học và cách mạng; khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam – nhân tố quyết định cho mọi thắng lợi và khẳng định rõ mục đích của việc hiện thực hóa lý tưởng cộng sản chủ nghĩa là vì lợi ích của nhân dân Việt Nam và toàn thể dân tộc.

    Bài viết khẳng định, việc lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vì đó “là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam”, “chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc”. Bằng dẫn liệu phong phú và phân tích sâu sắc, Bài viết đã làm rõ sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu cũng như sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đương đại và đi đến khẳng định lại tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam được nêu trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tại Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) là: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”[2]

     Bài viết phân tích, “từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thì hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội”. Những kẻ cơ hội, xu thời, đối lập tư tưởng với chủ nghĩa xã hội thì ra sức tuyên truyền cho chủ nghĩa tư bản. Rằng, đó là một xã hội tốt đẹp mà nhân dân các nước trên thế giới phải đi theo. Trong Bài viết, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định, không thể phủ nhận những thành tựu của chủ nghĩa tư bản và vai trò của nó trong sự phát triển của lịch sử nhân loại. “Chủ nghĩa tư bản chưa bao giờ mang tính toàn cầu như ngày nay và cũng đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhất là trong lĩnh vực giải phóng và phát triển sức sản xuất, phát triển khoa học - công nghệ” đã tạo ra lượng của cải vật chất đồ sộ cho sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. “Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó. Các cuộc khủng hoảng vẫn tiếp tục diễn ra”. “Những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc” vẫn tồn tại và ngày càng sâu sắc. “Các phong trào phản kháng xã hội bùng nổ mạnh mẽ tại nhiều nước tư bản phát triển trong thời gian qua càng làm bộc lộ rõ sự thật về bản chất của các thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa”. “Các thiết chế dân chủ phương Tây không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ”.

    Trên cơ sở đó Bài viết đưa ra quan điểm về khả năng xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từ sự phân tích những điều kiện của hiện thực. Cơ sở hiện thực của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hoá. Chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới. Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”[3]. 

    Điều đó thể hiện trên các nội dung chủ yếu sau:

    Thứ nhất, là những tiền đề vật chất to lớn đã đạt được qua 35 năm đổi mới đất nước.

    “Trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008”[4]. Đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỷ USD vào cuối năm 2020.

    Thứ hai, về tiến bộ xã hội.

    Trong 35 năm đổi mới, các thành tựu xây dựng con người của nước ta còn được thể hiện qua chỉ số HDI có xu hướng tăng đều và khá ổn định, cả về giá trị tuyệt đối cũng như thứ hạng. “Chỉ số phát triển con người (HDI) năm 2019 của Việt Nam là 0,704. Với kết quả này Việt Nam đã lọt vào danh sách các nước phát triển con người cao và được xếp thứ 117/189 quốc gia và vùng lãnh thổ”[5]; “Có một chỉ số rất quan trọng trong việc đánh giá sự phát triển của một quốc gia là chỉ số phát triển con người. Năm nay là năm đầu tiên Việt Nam được Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) đưa vào danh sách những nước có sự phát triển con người ở mức cao. Những năm gần đây Việt Nam nằm trong nhóm phát triển trung bình (theo đánh giá của Liên hợp quốc là những nước có mức đánh giá đạt số điểm dưới 0,7). Năm 2018 Việt Nam đạt mức 0,63 điểm, tức là còn thiếu 0,07 điểm nữa thì vào nhóm phát triển cao”[6]. “Tìm hiểu về chỉ số phát triển con người, chúng ta thấy đây là một chỉ số thể hiện tính nhân văn, là thước đo tổng hợp phản ánh sự phát triển của con người trên các phương diện: sức khỏe tri thức và thu nhập. HDI giúp tạo ra một cái nhìn tổng quát về sự phát triển của một quốc gia, dựa vào năm tiêu chí: Một là con người là trung tâm của sự phát triển; hai là người dân là mục tiêu của sự phát triển; ba là việc nâng cao vị thế của người dân (bao gồm cả sự hưởng thụ và cống hiến); bốn là chú trọng việc tạo lập sự bình đẳng cho người dân về mọi mặt (thí dụ như tôn giáo, dân tộc, giới tính, quốc tịch,...); năm là tạo cơ hội để lựa chọn tốt nhất cho người dân về kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa... Những năm gần đây ở Việt Nam tỷ lệ người dân tham gia vào hệ thống chính trị cũng khá cao, người dân được tham gia vào các việc như đưa ra các ý kiến góp ý cho các đường lối, các chính sách, thậm chí là tự do ngôn luận, cũng như sử dụng mạng in-tơ-nét...”[7].

    Thứ ba, đời sống văn hóa tinh thần có nhiều chuyển biến tích cực.

    Tinh thần yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao động, tính tích cực, tự giác, sáng tạo, ý thức cộng đồng được nâng cao; tinh thần đoàn kết, có lối sống lành mạnh, nếp sống vǎn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa… đang được phát huy mạnh mẽ trong điều kiện hiện nay. Đây là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam nêu ra quan điểm: “Khơi dậy khát vọng phát triển Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc”.

    Trên cơ sở những thành tựu to lớn đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, Bài viết khẳng định: “Những thành tựu đổi mới tại Việt Nam đã chứng minh rằng, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa không những có hiệu quả tích cực về kinh tế mà còn giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế”[8]. 

    Bài viết đặt vấn đề: “Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà chúng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để từng bước hoàn thiện đường lối, quan điểm và tổ chức thực hiện, làm sao để vừa theo đúng quy luật chung, vừa phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam”[9], “phải định hình chủ nghĩa xã hội thế nào, và định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội thế nào cho phù hợp với hoàn cảnh, đặc điểm cụ thể ở Việt Nam?”[10]. “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng chủ nghĩa xã hội là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”[11]. 

    Bài viết khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và huỷ hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có. Phải chăng những mong ước tốt đẹp đó chính là những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội[12].

    Những giá trị đích thực của chủ nghĩa xã hội mà Bài viết nêu ra cũng đồng thời là khả năng hiện thực mà đất nước ta có thể đạt được trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trước mắt là đến “năm 2025: là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến 2045: trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[13].

    Trên cơ sở những vấn đề lý luận và thực tiễn, Bài viết khẳng định, việc xây dựng chủ nghĩa xã hội với những giá trị tốt đẹp như trên không chỉ là khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử, mà còn có cơ sở hiện thực, có căn cứ khoa học và nhất định sẽ thành công.

    Bài viết còn khẳng định: “Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”[14].

    Có thể nói, với căn cứ lý luận, thực tiễn và sự phân tích khoa học, Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã làm sáng tỏ con đường lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và tương lai của dân tộc trong thời đại mới.

    PGS,TS Đặng Quang Định

    Viện trưởng Viện Triết học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

     

     

     

    [2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Vănkiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, tr.70.

    [5]https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/chi-so-phat-trien-con-nguoi-cua-viet-nam-tang-vuot-bac-629395/

    [6]https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/chi-so-phat-trien-con-nguoi-cua-viet-nam-tang-vuot-bac-629395/

    [7]https://nhandan.com.vn/binh-luan-phe-phan/chi-so-phat-trien-con-nguoi-cua-viet-nam-tang-vuot-bac-629395/

    [13] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, tập 1, tr.36.