Sign In

“Dân là gốc” trong lịch sử dân tộc và vận dụng trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

08:04 25/01/2026

Chọn cỡ chữ A a    

(HCMA4) - Tư tưởng “dân là gốc” là giá trị cốt lõi xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định, nâng tầm tư tưởng ấy, coi sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân là cội nguồn sức mạnh, động lực bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.

Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Đoàn Chủ tịch trình bày Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các Văn kiện Đại hội XIV.

Trong suốt tiến trình dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam, tư tưởng “dân là gốc” luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, chi phối cách thức tổ chức quyền lực, huy động sức mạnh quốc gia. Từ thời các triều đại phong kiến độc lập tự chủ cho đến thời đại Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, lịch sử đã chứng minh một chân lý mang tính quy luật: khi nào biết dựa vào dân, vì dân, lấy dân làm trung tâm thì quốc gia hưng thịnh; khi nào xa rời dân, coi nhẹ vai trò của dân thì tất yếu suy vong.

Bước vào kỷ nguyên phát triển mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc - Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định và phát triển tư tưởng “dân là gốc” lên tầm cao mới, coi mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân là cội nguồn sức mạnh, là động lực căn bản bảo đảm cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

1. Tư tưởng “dân là gốc” trong lịch sử dân tộc Việt Nam

a. Nguồn gốc và nội dung tư tưởng “dân là gốc”

Trong tư duy chính trị phương Đông, quan niệm “dân vi bản” (dân là gốc) đã xuất hiện từ rất sớm. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tư tưởng ấy không chỉ tồn tại như một học thuyết trị quốc mà còn được kiểm nghiệm, hun đúc và phát triển qua thực tiễn lịch sử đấu tranh sinh tồn của một dân tộc thường xuyên phải đối mặt với ngoại xâm và thiên tai khắc nghiệt[1].

“Dân là gốc” trước hết được hiểu là: dân là nền tảng của quốc gia, là chủ thể sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần, là lực lượng quyết định sự tồn vong của chế độ và mọi triều đại. Lấy dân làm gốc không chỉ dừng lại ở việc khoan thư sức dân, chăm lo đời sống nhân dân, mà còn là biết dựa vào dân, tin dân, phát huy sức dân và vì hạnh phúc của dân.

b. Tư tưởng “dân là gốc” qua các triều đại phong kiến

Thời Lý - Trần: khoan thư sức dân để giữ nước

Ngay từ buổi đầu xây dựng nhà nước phong kiến độc lập, các triều đại Lý - Trần đã sớm nhận thức rõ vai trò của nhân dân. Vua Lý Thái Tổ khi dời đô đã nhấn mạnh việc “mưu toan nghiệp lớn, tính kế muôn đời cho con cháu”, trong đó mục tiêu cao nhất là tạo điều kiện cho dân an cư, lạc nghiệp.

Đặc biệt, tư tưởng của Trần Hưng Đạo được xem là đỉnh cao của triết lý lấy dân làm gốc trong thời kỳ phong kiến. Ông khẳng định: Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước[2]. Ba lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thắng lợi không chỉ nhờ tài thao lược quân sự, mà trước hết là nhờ sự đồng lòng, nhất trí của toàn dân tộc - minh chứng sinh động cho sức mạnh vô địch của lòng dân.

Thời Lê sơ: dân là nền tảng của phép trị nước

Dưới triều Lê sơ, tư tưởng “dân là gốc” tiếp tục được nâng lên thành quan điểm trị quốc có tính hệ thống. Nguyễn Trãi - nhà tư tưởng lớn của dân tộc - đã khẳng định: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”. Nhân nghĩa không phải là khái niệm trừu tượng mà được cụ thể hóa bằng việc chăm lo đời sống nhân dân, bảo vệ quyền lợi chính đáng của dân.

Chính sách đồn điền, quân điền, khuyến nông, giảm tô thuế… dưới thời Lê Thánh Tông đã góp phần ổn định xã hội, phát triển kinh tế, tạo nền tảng cho một thời kỳ thịnh trị kéo dài. Thực tiễn đó cho thấy, khi quyền lực nhà nước gắn bó với lợi ích của dân, thì quốc gia có thể đạt tới sự ổn định và phát triển bền vững.

Bài học từ sự suy vong của các triều đại

Ngược lại, lịch sử cũng để lại nhiều bài học sâu sắc khi các triều đại xa rời dân, áp bức bóc lột nhân dân, dẫn đến khởi nghĩa nông dân và sự sụp đổ của chế độ. Cuối thời Trần, thời Lê Trung Hưng hay triều Nguyễn nửa cuối thế kỷ XIX đều cho thấy: mất lòng dân là mất tất cả. Đây là quy luật lịch sử mang tính phổ quát, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của bất kỳ giai cấp hay cá nhân cầm quyền nào.

2. Tư tưởng “dân là gốc” trong cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

a. Hồ Chí Minh - sự kế thừa và phát triển sáng tạo tư tưởng “dân là gốc”

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người kế thừa tinh hoa truyền thống dân tộc, đồng thời vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin để nâng tư tưởng “dân là gốc” lên tầm lý luận cách mạng khoa học. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”[3].

Theo Hồ Chí Minh, dân không chỉ là đối tượng phục vụ mà còn là chủ thể của cách mạng. Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đảng và Nhà nước chỉ có thể tồn tại, phát triển khi gắn bó máu thịt với nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu tối thượng.

b. Đảng Cộng sản Việt Nam và mối quan hệ với Nhân dân

Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ: Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng đều bắt nguồn từ thực tiễn cuộc sống của nhân dân và nhằm đáp ứng lợi ích của nhân dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc và công cuộc đổi mới đất nước đều bắt nguồn từ lòng dân, từ sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực tiễn đó khẳng định: Đảng mạnh là nhờ dân, Đảng tồn tại là vì dân.

3. Vận dụng tư tưởng “dân là gốc” trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

a. Quan điểm xuyên suốt: lấy Nhân dân làm trung tâm

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định rõ ràng và nhất quán quan điểm: “quán triệt sâu sắc và thực hành triệt để quan điểm “Dân là gốc”. Phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp và hạnh phúc của Nhân dân[4].

Đây là sự kế thừa trực tiếp tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời là sự phát triển phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới, khi đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng.

Theo tinh thần Văn kiện, Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển. Văn kiện chỉ rõ: “Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân”[5]. Điều này cho thấy nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng về vai trò quyết định của lòng dân đối với sự phát triển bền vững của quốc gia.

b. Xây dựng và củng cố mối quan hệ máu thịt giữa Đảng và Nhân dân

Văn kiện Đại hội XIV đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, gắn chặt với việc củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng. Văn kiện chỉ rõ: “Thực hiện nguyên tắc Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về các quyết định của mình”[6].

Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng được xác định là thước đo quan trọng phản ánh năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo. Văn kiện cho rằng: “thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Lấy sự hài lòng, tín nhiệm của người dân, doanh nghiệp và hiệu quả công việc làm tiêu chí đánh giá cán bộ”[7]. Đây chính là những điều kiện căn bản để giữ vững “gốc dân” trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

c. “Ý Đảng - lòng dân” là cội nguồn động lực của kỷ nguyên vươn mình

Một điểm nhấn có ý nghĩa chiến lược trong Văn kiện Đại hội XIV là yêu cầu tạo sự thống nhất cao giữa ý Đảng và lòng dân. Văn kiện khẳng định: “Có cơ chế phù hợp, thuận lợi và tin cậy để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của các cơ quan Đảng, Nhà nước đối với những kiến nghị, đề xuất của Nhân dân”[8].

Sự thống nhất giữa ý Đảng và lòng dân được coi là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, quyết định thành công của sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước như một yêu cầu mang tính nền tảng.

Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình, với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, Văn kiện chỉ rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân”[9]. Như vậy, chính sự gắn bó máu thịt giữa Đảng và Nhân dân, sự hòa quyện giữa ý Đảng và lòng dân là cội nguồn động lực tinh thần to lớn, tạo nền tảng chính trị - xã hội vững chắc cho kỷ nguyên phát triển mới. Giữ vững “gốc dân” chính là giữ vững tương lai của dân tộc./.

----------
[1] Nguyễn Xuân Phong (2015): “Cơ sở của tư tưởng chính trị “Dân là gốc” ở Việt Nam”, Tạp chí Dân tộc, số 9.
[2] Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn
[3]  Hồ Chí Minh (2011): Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.10, tr.453.
[4] [5] [6] [7] [8] [9] Cổng thông tin điện tử Chính phủ (2025): Dự thảo các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-du-thao-cac-van-kien-dai-hoi-xiv-cua-dang-119251015163630117.htm, truy cập ngày 25/11/2025.


Xuân Nguyên

Alternate Text

Bình luận

Danh sách bình luận

Số lượng ý kiến bài viết: 0

Thống kê lượt truy cập

Lượt truy cập:

Khách online: