Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; đồng thời là di sản tinh thần vô giá của dân tộc trong thời đại mới. Được hình thành trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, kế thừa truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, tư tưởng Hồ Chí Minh chứa đựng những giá trị lý luận và thực tiễn bền vững. Những nội dung cốt lõi như độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, phát huy sức mạnh Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, chăm lo đời sống Nhân dân và xây dựng đạo đức cách mạng tiếp tục giữ nguyên giá trị định hướng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và những biến động nhanh chóng, phức tạp của tình hình thế giới, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh, bền vững và phồn vinh của đất nước.
Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người gắn liền với hành trình đấu tranh vì độc lập dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xây dựng xã hội mới ở Việt Nam. Từ thực tiễn phong phú của cách mạng Việt Nam và thế giới, Hồ Chí Minh đã hình thành một hệ thống quan điểm toàn diện, sâu sắc về con đường phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới.
Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh là “kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta; kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”[1]. Đây không chỉ là hệ thống lý luận soi đường cho cách mạng Việt Nam mà còn là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc.
Điểm nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh là sự thống nhất giữa tính khoa học, tính cách mạng và tính nhân văn sâu sắc. Mọi tư tưởng và hoạt động của Người đều hướng tới mục tiêu cao nhất là giải phóng con người, đem lại độc lập cho dân tộc, tự do và hạnh phúc cho Nhân dân. Chính vì vậy, tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ có giá trị trong giai đoạn đấu tranh giành chính quyền mà còn tiếp tục giữ vai trò định hướng chiến lược đối với sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển đất nước hiện nay.
Thực tiễn hơn gần 100 năm lãnh đạo cách mạng của Đảng đã chứng minh rằng mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều gắn liền với việc vận dụng đúng đắn và sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc đến công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, tư tưởng Hồ Chí Minh luôn là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng và dân tộc Việt Nam.
Giá trị bền vững trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh phản ánh quy luật phát triển khách quan, mang tính khoa học, cách mạng và nhân văn sâu sắc, phù hợp với cả tính thời đại và tính dân tộc. Giá trị tư tưởng của Người không chỉ được khẳng định trong thế kỷ XX, mà còn được thể hiện trong hiện tại và tương lai. Có thể nhìn nhận những giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh trên hai góc độ sau đây.
Thứ nhất, tư tưởng Hồ Chí Minh là một trong những nhân tố quan trọng cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
Giá trị trước hết và nổi bật nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là vai trò định hướng chiến lược đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Tư tưởng của Người đã mở ra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam: con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn mang tính lịch sử, phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh, cách mạng Việt Nam đã đi từ thân phận một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, thống nhất, từng bước xây dựng chủ nghĩa xã hội và hội nhập sâu rộng với thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”[2]. Đây là sự khẳng định có ý nghĩa lịch sử và lý luận sâu sắc đối với sự phát triển của cách mạng Việt Nam.
Đặc biệt, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử sau 40 năm đổi mới tiếp tục khẳng định sức sống và giá trị trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực biến động nhanh chóng, phức tạp, Đảng ta tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phải kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc[3]. Điều đó cho thấy tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ là nền tảng tư tưởng của cách mạng Việt Nam trong quá khứ mà còn là cơ sở lý luận vững chắc cho hiện tại và tương lai.
Thứ hai, một trong những giá trị lý luận đặc sắc và mang tính thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải quyết một cách khoa học, biện chứng và hài hòa các mối quan hệ lớn của cách mạng Việt Nam. Đây cũng chính là cơ sở tạo nên sức sống bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn phát triển đất nước hiện nay.
Một trong những giá trị đặc sắc và bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh là giải quyết một cách khoa học, biện chứng và hài hòa các mối quan hệ lớn của cách mạng Việt Nam. Chính điều này tạo nên chiều sâu lý luận và sức sống trường tồn của tư tưởng Hồ Chí Minh trong thực tiễn phát triển đất nước hiện nay.
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp
Hồ Chí Minh luôn đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu nhưng không tách rời mục tiêu giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Theo Người, độc lập dân tộc phải gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân; nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa trọn vẹn. Đây là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện một nước thuộc địa như Việt Nam.
Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp đã tạo nên con đường cách mạng phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Quan điểm này không chỉ có ý nghĩa trong đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn tiếp tục là cơ sở lý luận quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Xác lập mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có mối quan hệ thống nhất, biện chứng và không thể tách rời. Người khẳng định độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để đi lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho nền độc lập dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân.
Quan điểm này tiếp tục là nền tảng tư tưởng định hướng cho công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội càng có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước.
Đề cao vai trò của Nhân dân và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Tư tưởng “lấy dân làm gốc” là một trong những nội dung cốt lõi và xuyên suốt trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Người khẳng định Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng. Theo Hồ Chí Minh, mọi chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích chính đáng và nguyện vọng của Nhân dân; sức mạnh của cách mạng bắt nguồn từ sự đồng thuận xã hội và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Quan điểm này tiếp tục có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hiện nay khi yêu cầu phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng trở nên cấp thiết.
Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội
Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh mục tiêu cao nhất của chế độ xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân[4]. Theo Người, phát triển kinh tế không phải là mục tiêu tự thân mà phải hướng tới phục vụ con người, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển toàn diện.
Quan điểm này có ý nghĩa định hướng sâu sắc đối với quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Trong bối cảnh khoảng cách giàu nghèo, bất bình đẳng xã hội và những thách thức về an sinh xã hội ngày càng đặt ra rõ nét, việc bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội là yêu cầu tất yếu của sự phát triển bền vững.
Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh và gắn bó mật thiết với Nhân dân
Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh. Người khẳng định Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là “người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân”[5]. Theo Người, sức mạnh và uy tín của Đảng bắt nguồn từ sự gắn bó mật thiết với Nhân dân; mọi biểu hiện quan liêu, xa dân, tham nhũng hay chủ nghĩa cá nhân đều làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng.
Trong điều kiện hiện nay, những quan điểm đó tiếp tục có ý nghĩa thời sự sâu sắc đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ phẩm chất, năng lực và uy tín ngang tầm nhiệm vụ.
Vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay

Đoàn cán bộ Học viện Chính trị khu vực IV đến viếng và dâng hương tại đền thờ Bác Hồ tại xã Lương Tâm, thành phố Cần Thơ.Ảnh: Thiện Nhận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển đất nước.
Trước hết, cần tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng cơ quan, đơn vị và địa phương. Việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh phải được chuyển hóa thành hành động cụ thể trong thực tiễn công tác; khắc phục tình trạng hình thức, giáo điều hoặc học tập thiếu chiều sâu.
Cùng với đó, cần đổi mới nội dung và phương thức giáo dục lý luận chính trị theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với môi trường số. Việc ứng dụng công nghệ truyền thông đa nền tảng để lan tỏa giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt đối với thế hệ trẻ, là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
Đồng thời, phải kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng. Đây không chỉ là nhiệm vụ chính trị quan trọng mà còn là yêu cầu tất yếu nhằm giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa.
Bên cạnh đó, cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường pháp luật, kỷ luật và kỷ cương; xây dựng nền hành chính phục vụ Nhân dân; phát triển kinh tế nhanh và bền vững gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội.
Kết luận
Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết tinh trí tuệ của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là ngọn cờ tư tưởng dẫn dắt cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ được khẳng định trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc mà còn tiếp tục soi sáng con đường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời đại mới.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, việc tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là yêu cầu khách quan và nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đây chính là cơ sở quan trọng để xây dựng đất nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững, phồn vinh và hạnh phúc.
Võ Thị Kim Huệ
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.88.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam (2007): Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.51, tr.147.
[3] Đảng Cộng sản Việt Nam (2021): Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.I, tr.109.
[4] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.9, tr.352.
[5] Hồ Chí Minh (2021), Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, t.15, tr.612.